Bản tin Cải cách hành chính ngày 05/9/2023

16:25, Thứ Ba, 5-9-2023

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.        Thừa Thiên - Huế giảm 40% lệ phí sử dụng dịch vụ công trực tuyến

2.        Hệ thống giám sát hiện trường ở Bình Định: Tiếp nhận xử lý nhanh các lĩnh vực

3.        Dấu ấn chuyển đổi số tại Đà Nẵng

4.        Long An lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ

5.        Điện Biên: Hiệu quả mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” ở cấp xã

6.        Sở Tư pháp An Giang nâng cao chỉ số hài lòng của người dân

7.        Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an Thái Bình đẩy mạnh tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

8.        Cung ứng trang thiết bị y tế còn đứt gãy: 7.000 hồ sơ tồn đọng vì cấp phép lưu hành trì trệ

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9.        Lần đầu tiên Đảng quy định về xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan

10.     TPHCM: Kiến nghị xử lý gần 700 cán bộ né tránh, thiếu trách nhiệm

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

11.     Không để lãng phí công sản

12.     Ý thức, trách nhiệm trong kỷ luật phát ngôn

 

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Thừa Thiên - Huế giảm 40% lệ phí sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Tỉnh Thừa Thiên - Huế vừa thông qua Nghị quyết giảm 40% mức thu các loại lệ phí cho các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Theo đó, các lệ phí được giảm 40%, gồm: phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; phí cấp phép xây dựng; phí đăng ký kinh doanh; phí hộ tịch; phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Nghị quyết của HĐND tỉnh Thừa Thiên - Huế có hiệu lực từ ngày 1/9/2023 đến ngày 31/12/2024.

Được biết, chính sách này của Thừa Thiên - Huế là sự động viên, thu hút tổ chức, cá nhân tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến, từ đó nâng cao chỉ số cải cách hành chính của tỉnh.

Trong năm 2022, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã vươn lên đứng đầu toàn quốc về chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI).

Tỉnh này đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức công; tạo cơ hội cho người dân tham gia đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền. (Giaoducthoidai.vn 05/9, Đại Dương)Về đầu trang

Hệ thống giám sát hiện trường ở Bình Định: Tiếp nhận xử lý nhanh các lĩnh vực

Thay vì gặp trực tiếp, chỉ cần thiết bị điện thoại thông minh kết nối mạng internet, người dân Bình Định có thể phản ánh và theo dõi kết quả xử lý vấn đề bất cập một cách kịp thời.

Thời gian gần đây, thấy nhiều trường hợp vi phạm luật giao thông đường bộ, lấn chiếm vỉa hè để buôn bán, anh Nguyễn Minh Hiếu (phường Trần Phú, TP Quy) đã lên app Bình Định Smart City (Dịch vụ đô thị thông minh Bình Định) để phản ánh kèm hình ảnh và video. Anh Hiếu mong muốn chính quyền lập kế hoạch xử lý gấp và kiểm tra thường xuyên để chấn chỉnh tình trạng này.

“Ở điểm 340 đường Xuân Diệu có những hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ, vi phạm lấn chiếm toàn bộ vỉa hè để vật chất, sản phẩm, bàn ghế buôn bán. Chính quyền lập kế hoạch xử lý gấp. Còn rất nhiều vi phạm khác ở đường Xuân Diệu, đội ngũ cán bộ hãy đi kiểm tra thường xuyên”, anh Hiếu nêu.

Nhận được phản ánh của anh Hiếu, UBND phường Trần Phú, TP Quy Nhơn đã cử cán bộ địa chính phối hợp với tổ trật tự đô thị xuống tại hiện trường phản ánh xác minh vấn đề, nhắc nhở những người buôn bán lùi vào bên trong. Đồng thời tuyên truyền, vận động những hộ dân xung quanh không buôn bán, lấn chiếm vỉa hè đến phần kẻ vạch để đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông. Người buôn bán ở khu vực này đã chấp hành.

Ngày 15/8, chỉ trong chưa đầy một tuần (từ ngày 8/8 tiếp nhận phản ánh), UBND phường Trần Phú đã thông tin kết quả lại cho anh Hiếu trên app Bình Định Smart City.

Ông Nguyễn Minh Thảo, Phó Giám đốc Sở TT&TT tỉnh Bình Định cho biết, năm 2021, tỉnh Bình Định triển khai hệ thống thông tin giám sát hiện trường tỉnh Bình Định. Các cá nhân, tổ chức có thể thông qua ứng dụng Bình Định SmartCity; Cổng thông tin đô thị thông minh Bình Định; Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định… để phản ánh hiện trường và theo dõi kết quả xử lý.

Các lĩnh vực tiếp nhận, xử lý hiện trường gồm Thông tin và Truyền thông, Giao thông - Vận tải, Y tế, Tài nguyên - Môi trường, Xây dựng, Du lịch, Văn hóa - Thể thao. Thời gian tiếp nhận phản ánh hiện trường của cá nhân, tổ chức được thực hiện 24/24 giờ, 7 ngày/tuần.

Yêu cầu nội dung phản ánh hiện trường cần phải có thời gian, địa điểm rõ ràng, chính xác kèm hình ảnh, video phản ánh.

Sau khi tiếp nhận phản ánh, đối với trường hợp thông tin phản ánh đảm bảo chính xác, nhân sự Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông (Sở TT&TT tỉnh Bình Định) sẽ tiếp nhận và chuyển đến các cơ quan để xử lý.

Đối với trường hợp phát hiện thông tin phản ánh không đảm bảo chính xác, nhân sự Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tiếp nhận chuyển lại cho cá nhân, tổ chức có ý kiến phản ánh hiện trường. Yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp, bổ sung hoặc làm rõ thêm nội dung thông tin để xác minh độ chính xác của thông tin phản ánh.

Theo thống kê của Sở TT&TT tỉnh Bình Định, từ khi triển khai hệ thống thông tin giám sát hiện trường tỉnh Bình Định đến tháng 8/2023 đã có 271 phản ánh người dân gửi đến Trung tâm tiếp nhận. Trong đó, có 120 phản ánh không được tiếp nhận vì thiếu thông tin về địa điểm, hình ảnh, video clip, bị trùng lặp…Và 143 phản ánh đã được cơ quan chức năng xử lý, trả lời; 8 phản ánh đang được cơ quan chức năng xử lý.

Theo ông Thảo, khó khăn, vướng mắc lớn nhất hiện nay là thời hạn xử lý. Đối với những phản ánh đơn giản, thời hạn xử lý phản ánh chậm nhất là 6 ngày làm việc. Còn đối với những nội dung phản ảnh liên quan đến nhiều ngành, 6 ngày làm việc không đủ thời gian dẫn đến quá hạn xử lý.

“Hệ thống dịch vụ phản ảnh hiện trường cơ bản đã giúp các cơ quan đơn vị giải quyết kịp thời các vấn đề bất cập của đô thị trên các lĩnh vực Thông tin và Truyền thông, Văn hóa - Thể thao, Y tế, Xây dựng, Giao thông vận tải, Du lịch, Tài nguyên – Môi trường; đảm bảo thông tin thông suốt giữa chính quyền với công dân và tổ chức.

Đồng thời hỗ trợ người dân phản ánh, kiến nghị về các lĩnh vực trong đời sống một cách dễ dàng, nhanh chóng với thao tác đơn giản trên ứng dụng điện thoại thay vì phải mất thời gian gửi đơn trực tiếp lên chính quyền như trước đây”, ông Thảo nói. (Vietnamnet.vn 03/9, Diễm Phúc)Về đầu trang

Dấu ấn chuyển đổi số tại Đà Nẵng

Đà Nẵng xác định chuyển đổi số nhằm thay đổi phương thức quản lý nhà nước, quản lý xã hội và sản xuất - kinh doanh, kết hợp với ứng dụng công nghệ số để tạo ra các dịch vụ mới, mang lại giá trị mới.

Trung tuần tháng 8/2023, UBND TP. Đà Nẵng chính thức khai trương Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh TP. Đà Nẵng (Trung tâm IOC). Trung tâm IOC là đầu mối thu thập thông tin, dữ liệu từ các OC quận, huyện; OC chuyên ngành và các ứng dụng, hệ thống của các cơ quan, đơn vị, cộng đồng… nhằm phân tích, đưa ra số liệu tổng hợp về tình hình hoạt động của Thành phố để lãnh đạo có thông tin chỉ đạo, điều hành.

Trung tâm này còn đảm nhận vai trò chia sẻ thông tin cho các cơ quan liên quan phục vụ quản lý nhà nước; công khai, minh bạch cho người dân, doanh nghiệp, phục vụ việc triển khai chính quyền đô thị. Đồng thời, phát hiện, cảnh báo sớm các vấn đề, sự kiện bất thường liên quan đến hoạt động của đô thị, hỗ trợ làm Trung tâm chỉ huy tập trung của Thành phố trong xử lý các tình huống khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh…

Sự ra đời Trung tâm IOC có thể nó là “trái ngọt” đối với công tác chuyển đổi số của TP. Đà Nẵng trong suốt thời gian qua. Theo như lời ông Lê Trung Chinh, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, Trung tâm IOC là mô hình mới, áp dụng công nghệ mới, sử dụng dữ liệu số, đặc biệt là yêu cầu cao về quy trình, nghiệp vụ liên ngành.

“Trung tâm kế thừa kết quả triển khai, đặc biệt là hạ tầng và dữ liệu số. Sự kiện khai trương, đưa vào hoạt động Trung tâm IOC thể hiện cam kết, quyết tâm cao nhất của lãnh đạo Thành phố trong triển khai chuyển đổi số, xây dựng thành phố thông minh”, ông Chinh khẳng định.

Liên quan đến chuyển đổi số, ông Chinh cho rằng, đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, được chính quyền Thành phố xác định là động lực thúc đẩy phát triển mọi mặt về chính quyền, kinh tế, xã hội.

Theo ông Chinh, trong những năm qua, công cuộc chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố đã diễn ra đồng bộ, mạnh mẽ, cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, người dân chủ động, tích cực tham gia triển khai.

“Một trong những thành công bước đầu của Đà Nẵng trong chuyển đổi số là triển khai nhiều ứng dụng, tiện ích và nhiều kênh để người dân, doanh nghiệp tiếp cận sử dụng. Qua đó, tạo được sự tương tác giữa chính quyền và người dân, góp phần không nhỏ vào quá trình phục hồi, phát triển kinh tế Thành phố, cải cách hành chính”, ông Chinh nói.

Theo báo cáo, năm 2022, kinh tế số đóng góp 17,5% trong cơ cấu GRDP của Đà Nẵng, với tỷ lệ ngành công nghiệp công nghệ thông tin có tốc độ tăng trưởng cao (bình quân trên 20%/năm), dần khẳng định là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Thành phố.

Về chính quyền số, Thành phố đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu dịch vụ công trực tuyến và bắt đầu sử dụng dữ liệu số trong chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công theo hướng dịch vụ số. Tính đến nay, Đà Nẵng đạt tỷ lệ 96% dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ (vượt chỉ tiêu quốc gia năm 2023 là 90%; chỉ tiêu của Thành phố năm 2023 là 95%). Tính đến tháng 6/2023, đã tích hợp được 1.627 dịch vụ công trực tuyến lên hệ thống dịch vụ công quốc gia.

Thành phố bắt đầu đưa dịch vụ ngoài một cửa và dịch vụ sự nghiệp công lên cung cấp trực tuyến mức 4 trên Cổng dịch vụ công Thành phố; sử dụng dữ liệu số để đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay thế thành phần hồ sơ giấy khi thực hiện thủ tục hành chính. Đến tháng 6/2023, Đà Nẵng đã cấp hơn 394.000 tài khoản định danh điện tử, chiếm 32% dân số Thành phố (chỉ tiêu quốc gia giao là 30%; tỷ lệ trung bình toàn quốc hiện là 60%); 81/96 cơ sở khám chữa bệnh triển khai khám chữa bệnh bằng thẻ CCCD gắn chip.

Về kinh tế số, theo ước tính của Bộ Thông tin và Truyền thông, kinh tế số của Đà Nẵng năm 2022, chiếm tỷ trọng khoảng 19,76% trong cơ cấu GRDP Thành phố, gần đạt chỉ tiêu năm 2025 là 20%. Tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số đạt 2,3 doanh nghiệp/1.000 dân (gấp 3 lần tỷ lệ trung bình toàn quốc); 2 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu trên 1.000 tỷ đồng.

Các doanh nghiệp công nghệ số Thành phố đã phát triển nhiều sản phẩm chủ lực và đạt các giải thưởng quốc gia như Giải thưởng Sao Khuê, Giải thưởng Viet Solutions, Giải thưởng Make in Viet Nam...

Song song đó, hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông tại Thành phố đã có những bước phát triển vượt bậc, được mở rộng theo hướng dịch vụ đa dạng, phong phú với chất lượng ngày càng cao đáp ứng các yêu cầu của người dân, doanh nghiệp, cũng như sẵn sàng cho việc triển khai xây dựng thành phố thông minh, phát triển chuyển đổi số.

Thành phố hoàn thành phủ sóng mạng 3G, 4G, Internet băng rộng cố định tại 100% khu dân cư; phát triển phủ sóng mạng 5G tại khu vực trung tâm Thành phố và các khu công nghệ thông tin tập trung. Hạ tầng truyền dẫn cáp quang bảo đảm cung cấp 100% nhu cầu băng thông tốc độ cao cho doanh nghiệp công nghệ thông tin. Trên cơ sở truyền dẫn cáp quang mạng MAN, đến nay trên địa bàn Thành phố có 250 điểm wifi công cộng miễn phí, khoảng 100 điểm wifi của các doanh nghiệp triển khai miễn phí tại khu vực sân bay, nhà ga, bệnh viện..

Ngoài ra, xã hội số từng bước hình thành và phát triển đã tạo được thói quen, kỹ năng số trong người dân, góp phần đưa Đà Nẵng 2 năm liên tiếp xếp hạng nhất Chỉ số Đánh giá chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI); 3 năm liên tiếp đạt Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam ở hạng mục “Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc”; 3 năm liên tiếp đạt Giải thưởng Thành phố thông minh Việt Nam… (Baodautu.vn 05/9, Thái Hòa)Về đầu trang

Long An lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ

Tỉnh Long An tạo đột phá trong nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Quy hoạch tỉnh Long An thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đề ra 3 đột phá phát triển kinh tế - xã hội. Một trong số đó là hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo đột phá trong nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Đây cũng là quan điểm được lãnh đạo tỉnh Long An quán triệt trong nhiều năm qua. Theo đó, Long An luôn xác định việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, liên tục trong chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tỉnh đã và đang tập trung thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, như đầu tư hạ tầng giao thông kết nối, tạo quỹ đất công nghiệp, thực hiện các quyết sách mạnh mẽ, đột phá trong cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” nhằm giảm thiểu thời gian, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi nhất cho nhà đầu tư, doanh nghiệp. Thời gian qua, có nhiều dự án quy mô lớn đầu tư vào các khu công nghiệp được tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư chỉ trong 1 ngày kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ.

Quan tâm “chăm sóc” nhà đầu tư cũng là quan điểm của lãnh đạo tỉnh Long An, được thực hiện nghiêm túc, nhất quán trong thời gian qua. Đây chính là yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh tỉnh nhà.

Đến với Long An, nhà đầu tư được hoan nghênh, chào đón, được chính quyền địa phương cùng các sở, ban, ngành tích cực cung cấp thông tin về chính sách, cơ hội đầu tư và hỗ trợ khảo sát thực tế để lựa chọn địa điểm. Đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư đã triển khai dự án và hoạt động trên địa bàn, tỉnh tiếp tục đồng hành, thường xuyên gặp gỡ, đối thoại để giải quyết nhanh chóng, kịp thời những khó khăn, vướng mắc, tạo mọi điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.

Sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh tỉnh Long An đã được chứng minh trong thực tế qua sự đánh giá cao của cộng đồng doanh nghiệp. Phát biểu tại Hội nghị Công bố quy hoạch và Xúc tiến đầu tư tỉnh Long An tổ chức cuối tháng 7/2023, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch HĐQT Đồng Tâm Group, Chủ tịch Hội đồng Các hiệp hội doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Long An nhận định, bên cạnh tiềm năng, lợi thế vốn có, tỉnh Long An đã có hướng đi đúng đắn, nỗ lực mang lại những đột phá trong thu hút đầu tư trên tất cả các lĩnh vực mà địa phương có thế mạnh.

“Chúng tôi cũng đánh giá cao tinh thần quyết liệt trong cải cách thủ tục hành chính của lãnh đạo tỉnh Long An, luôn lắng nghe và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đầu tư”, ông Võ Quốc Thắng bày tỏ.

Với nỗ lực phục hồi kinh tế, cải cách hành chính, thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư, năm 2022, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Long An có bước tiến đáng kể khi tăng 6 bậc so với năm 2021, vươn lên vị trí thứ 10/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Theo đánh giá của UBND tỉnh Long An, kết quả xếp hạng PCI năm 2022 cho thấy chất lượng điều hành của tỉnh tiếp tục có sự cải thiện. Chất lượng giải quyết thủ tục hành chính có chuyển biến tốt; tình trạng trả chi phí không chính thức duy trì xu hướng giảm; việc tăng cường tính minh bạch, tính năng động và cạnh tranh bình đẳng có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, việc cải thiện PCI vẫn còn những điểm chưa được như kỳ vọng của lãnh đạo tỉnh, các cấp, các ngành trong tỉnh cần quyết liệt và cố gắng nhiều hơn nữa để có kết quả đồng bộ, bền vững hơn.

Để môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh ngày càng thông thoáng hơn, các chỉ số thành phần PCI được cải thiện và tăng dần qua từng năm, hướng tới mục tiêu duy trì vị trí của Long An trong tốp đầu trên bảng xếp hạng PCI cả nước một cách bền vững hơn, UBND tỉnh Long An đã ban hành Kế hoạch Tiếp tục cải thiện và nâng cao PCI năm 2023.

Mục tiêu tỉnh đặt ra là phấn đấu điểm số PCI năm 2023 đạt 70,5 điểm (tăng 2,06 điểm so với năm 2022); các chỉ số thành phần PCI năm sau không giảm điểm, giảm hạng so với năm trước. Phấn đấu điểm số PCI năm 2023 của tỉnh xếp trong nhóm các tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế “rất tốt” trên cả nước.

UBND tỉnh Long An yêu cầu thủ trưởng các sở, ngành trong tỉnh và UBND cấp huyện, cấp xã đổi mới tư duy, tích cực nghiên cứu, nắm vững nội dung các chỉ số thành phần PCI, chủ động đề ra giải pháp thiết thực và phù hợp với tình hình thực tế nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tại đơn vị, địa phương mình, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của cả tỉnh. (Baodautu.vn 05/9, Trúc Giang)Về đầu trang

Điện Biên: Hiệu quả mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” ở cấp xã

Thực hiện Nghị định 61/2018/NÐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), những năm qua, UBND tỉnh Ðiện Biên đã ban hành nhiều văn bản, kế hoạch cụ thể. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Có mặt tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của xã Ẳng Tở (huyện Mường Ảng) ngày thứ 2 đầu tuần, PV nhận thấy có nhiều người dân đến giao dịch song mọi việc diễn ra trôi chảy; thái độ niềm nở của cán bộ đã tạo không khí thoải mái, dễ chịu cho người đến giao dịch.

Ông Ðào Xuân Hòa, Chủ tịch UBND xã Ẳng Tở cho biết: Những năm qua xã đã chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết các TTHC, cung ứng dịch vụ công, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí, tăng tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Nhờ đó, việc triển khai TTHC công trực tuyến của xã kỳ sau cao hơn kỳ trước.

Những năm qua, công tác cải cách hành chính trên địa bàn huyện Mường Ảng đạt được nhiều kết quả khả quan. UBND các xã, thị trấn đã quan tâm thực hiện các nhiệm vụ công tác kiểm soát TTHC, đổi mới việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” và thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến ngày càng được nâng cao; tỷ lệ các chỉ số quý II đều tăng so với quý I/2023. Kết quả đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công theo thời gian thực trên môi trường điện tử của 10/10 đơn vị trong quý II có 8 đơn vị xếp loại xuất sắc, 2 đơn vị xếp loại tốt; không có đơn vị xếp loại khá trở xuống.

Việc tiếp nhận và giải quyết TTHC tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các cấp chính quyền, nhất là cấp xã trên địa bàn tỉnh đi vào nền nếp đã tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp đến giao dịch; giảm tình trạng công dân, tổ chức phải đi lại nhiều lần, gặp nhiều cơ quan để giải quyết công việc. Số lượng hồ sơ tiếp nhận qua dịch vụ công trực tuyến tăng đều qua các kỳ. (Baodienbienphu.com.vn 03/9, Anh Nguyễn)Về đầu trang

Sở Tư pháp An Giang nâng cao chỉ số hài lòng của người dân

Tháng 7/2023, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình ký ban hành Quyết định 1096/QĐ-UBND, công bố Chỉ số hài lòng của người dân. Sở Tư pháp đạt 90,16 điểm, đứng thứ 2/18 sở, ban, ngành về sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước năm 2022.

Theo Sở Tư pháp An Giang, kết quả trên đến từ nỗ lực, phấn đấu liên tục của Đảng ủy, Ban Giám đốc, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành trong lãnh, chỉ đạo, kiện toàn bộ máy, cải cách hành chính (CCHC), nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Nhiều năm qua, ngành tư pháp kiện toàn bộ máy, đổi mới, nâng chất hoạt động chuyên môn, thực hiện nghiêm quy định của Bộ Tư pháp; kế hoạch của UBND tỉnh về CCHC hàng năm; bám sát các nội dung về sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước đề ra (Chỉ số SIPAS).

Năm 2022, Sở Tư pháp cụ thể hóa 31 đầu công việc, hoàn thành 100% công việc đề ra, không để “nợ” hay chậm trễ. 6 tháng đầu năm 2023, Sở Tư pháp tiếp nhận 6.305 hồ sơ, giải quyết 6.126 vụ, có 99,9% vụ giải quyết trước thời hạn.

Trong công tác chuyển đổi số, ngành triển khai thí điểm kết nối liên thông TTHC đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử giữa Hệ thống thông tin quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp với Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tỉnh, chọn TP. Long Xuyên thí điểm triển khai, thực hiện toàn hệ thống.

Trong cải cách TTHC, Sở Tư pháp An Giang tiếp tục rà soát, cập nhật danh mục được ban hành văn bản mới, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; cập nhật, công khai quyết định đã công bố danh mục trên Cổng thông tin điện tử tỉnh; xây dựng, trình phê duyệt quy trình nội bộ giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết, quản lý của các đơn vị.

Cùng với cải cách tổ chức bộ máy hành chính, chế độ công vụ, cải cách tài chính công... Sở Tư pháp đặc biệt quan tâm công tác xây dựng và phát triển chính quyền số, coi đây là nhóm tiêu chí hàng đầu CCHC, triển khai thực hiện trong toàn ngành.

Đến nay, 100% cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, UBND xã, phường, thị trấn ứng dụng hiệu quả phần mềm quản lý văn bản, chỉ đạo điều hành có sử dụng chữ ký số. 100% văn bản đến - đi trao đổi qua phần mềm, 100% sử dụng hệ thống thư điện tử. Ở các đầu mối bố trí cán bộ túc trực tiếp nhận, xử lý, không để thông tin, văn bản bị chậm trễ hay tắc nghẽn. (Baoangiang.com.vn 04/9, Nguyễn Rạng)Về đầu trang

Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an Thái Bình đẩy mạnh tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến

Xác định cải cách hành chính là một trong những công tác trọng tâm, đột phá nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về an ninh trật tự, 6 tháng đầu năm 2023, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh Thái Bình đã không ngừng đổi mới phương pháp làm việc, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cá nhân, tổ chức trong giải quyết thủ tục hành chính. Đây là đơn vị đứng thứ nhất toàn quốc về tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến.

Từ đầu năm 2023 đến nay, Công an tỉnh Thái Bình đã chỉ đạo các đơn vị, Công an huyện, thành phố thực hiện nghiêm túc việc niêm yết công khai, minh bạch, kịp thời, đầy đủ 100% thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử Công an tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh và Bộ phận một cửa Công an các cấp để người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, theo dõi, giám sát, đánh giá trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.

Chủ động rà soát, đề xuất Bộ Công an cắt giảm, đơn giản hóa 49 quy định thủ tục hành chính không cần thiết, chưa hợp lý liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; cắt giảm thời gian giải quyết đối với 101/170 thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước về an ninh trật tự và thực hiện nghiêm túc các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính của Chính phủ, Bộ Công an.

Với quyết tâm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phục vụ nhân dân, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh đã thường xuyên rà soát, nghiên cứu các văn bản, quy định của Nhà nước, Bộ Công an về công tác xuất nhập cảnh và các văn bản của Công an tỉnh về cải cách hành chính để đơn giản hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết và cấp các loại giấy tờ liên quan đến xuất nhập cảnh. Trong đó, đơn vị đã thực hiện tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính về lĩnh vực xuất nhập cảnh theo cơ chế một cửa với tiêu chí nhanh gọn, thuận tiện, giảm phiền hà, sách nhiễu cho nhân dân; tiếp nhận hồ sơ dịch vụ công đối với thủ tục khai báo tạm trú cho người nước ngoài tại Việt Nam qua Trang thông tin điện tử (6 tháng đầu năm, đơn vị đã tiếp nhận thông tin khai báo tạm trú trực tuyến đối với 7.129 lượt người nước ngoài - đạt 100% trên tổng số lượt khai báo).

Từ ngày 1/3/2023, đơn vị đã thực hiện song hành việc tiếp nhận giải quyết dịch vụ công trực tuyến đối với thủ tục cấp hộ chiếu phổ thông không gắn chip điện tử ở trong nước và thủ tục cấp hộ chiếu phổ thông có gắn chip điện tử cho công dân ở trong nước bằng hình thức trực tuyến trên Cổng dịch vụ công Bộ Công an (tỷ lệ tiếp nhận đạt 100% đối với hồ sơ đủ điều kiện). Do những tiện ích của hộ chiếu có gắn chip điện tử nhanh chóng, thuận lợi khi làm thủ tục xuất nhập cảnh, có tính bảo mật cao, được phía nước ngoài ưu tiên khi xét duyệt cấp thị thực nhập cảnh trong khi mức lệ phí không thay đổi nên tỷ lệ công dân lựa chọn đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông có gắn chip điện tử cao (chiếm 70% tổng số hồ sơ).

Bên cạnh đó, đơn vị đã tích cực nghiên cứu, rà soát, đề xuất Giám đốc Công an tỉnh quyết định điều chỉnh cắt giảm thời gian giải quyết đối với 4 thủ tục (cấp thẻ tạm trú; cấp thị thực; gia hạn tạm trú cho người nước ngoài và cấp giấy phép vào khu vực cấm, khu vực biên giới cho người nước ngoài), đạt tỉ lệ giảm 40% thời gian giải quyết so với quy định của Bộ Công an và 23,5% tổng số thủ tục hành chính lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh. Song song với đó, đơn vị còn thường xuyên tuyên truyền, giáo dục CBCS về tinh thần trách nhiệm, tận tụy phục vụ nhân dân gắn với phong trào thi đua của Công an tỉnh.

Ngoài ra, mỗi đội công tác còn xây dựng và thực hiện phương châm hành động cụ thể phù hợp với nhiệm vụ công tác như: "Kiểm tra chặt chẽ, đối chiếu kỹ càng, giải thích rõ ràng, hướng dẫn chu đáo" và "Hết việc chứ không hết giờ" trong quy trình tiếp nhận hồ sơ cấp hộ chiếu, thông hành cho công dân Việt Nam; "Nắm vững pháp luật, hướng dẫn kịp thời, xử lý nghiêm minh" khi làm việc với người nước ngoài nhằm đảm bảo các yêu cầu pháp luật, nghiệp vụ, đối ngoại... (Cand.com.vn 05/9, V.Linh- B.Vân)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cung ứng trang thiết bị y tế còn đứt gãy: 7.000 hồ sơ tồn đọng vì cấp phép lưu hành trì trệ

Tình trạng xét cấp phép đăng ký lưu hành (số lưu hành) đối với trang thiết bị y tế (TTBYT) nhập khẩu chậm đến mức tính đến trung tuần tháng 8/2023, có đến 7.000 hồ sơ đang phải xếp hàng chờ Bộ Y tế xét duyệt. Sự chậm trễ này được cho là kết quả của khoảng trống pháp lý “gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý và gây đứt gãy chuỗi cung ứng trang thiết bị y tế” chậm được quan tâm giải quyết.

Phía Bộ Y tế cho biết, đã có sự chuẩn bị kế hoạch và sẽ ưu tiên giải quyết sớm trong thời gian tới, tuy nhiên cũng phải đến hết năm 2024 mới có thể xử lý cơ bản.

Phải xếp hàng chờ đợi lâu, nhiều doanh nghiệp, tổ chức đã gửi thư đề nghị Bộ Y tế quan tâm, hỗ trợ, thúc đẩy tiến độ xử lý vướng mắc để việc cấp số lưu hành TTBYT bớt trì trệ. Không ít doanh nghiệp (DN) như ngồi trên lửa, vì cho rằng họ đang phải chịu nhiều bất lợi, mất quá nhiều chi phí cơ hội, thậm chí thiệt hại không đáng có. Bên cạnh đó, nhiều cơ sở y tế, người dân không được tiếp cận thiết bị y tế mới trong chẩn đoán điều trị.

Sau khi dịch COVID-19 xảy ra, vấn đề nhập khẩu, xem xét hồ sơ cấp số lưu hành cho thiết bị y tế ở nước ta dường như được quản lý chặt và quy trình nhập khẩu, lưu hành phải được thực hiện nghiêm ngặt hơn. Thực tiễn quản lý, nhập khẩu và đấu thầu TTBYT luôn được Chính phủ quan tâm và chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc để các cơ sở y tế có điều kiện tốt hơn trong mua sắm mới; tạo điều kiện để quá trình khám chữa bệnh cho người bệnh được tốt, được chẩn đoán bằng thiết bị y tế chất lượng cao hơn.

Tuy nhiên, từ tháng 8/2022 đến nay, vấn đề cấp số lưu hành cho TTBYT nhập khẩu trở nên rất chậm trễ, thủ tục xem xét hồ sơ bị cho là nhiêu khê và nhiều vướng mắc đang khó giải quyết, gây thiệt hại không chỉ cho doanh nghiệp nhập khẩu. Thực tế này dẫn đến lượng hồ sơ của DN gửi lên Bộ Y tế xin cấp số lưu hành phải chờ đợi để được đọc, xét duyệt tăng kỷ lục lên đến hơn 7.000. Đây là số lượng quá lớn để có thể giải quyết, do đó, sự chờ đợi của các doanh nghiệp ngày càng mòn mỏi. Cụ thể hơn nữa, số lượng TTBYT đề nghị được cấp số lưu hành ghi trong 7.000 hồ sơ trên rất lớn, đa dạng và có nhiều loại thiết bị khá cần kíp cho quá trình hiện đại hóa, đồng bộ thiết bị của nhiều cơ sở y tế.

Trao đổi với PV Tiền Phong ngày 17/8/2023 về thực trạng chậm trễ cấp số lưu hành TTBYT đang gây khó khăn cho doanh nghiệp, ông Vũ Đức Nhất- Tổng Giám đốc Philips Việt Nam kể: Để hình dung về thiệt hại của DN, người dân do phải chờ đợi cấp số lưu hành quá lâu, tôi lấy ví dụ thế này: Philips vừa cho ra đời máy CT scaner mới. Máy này muốn được bán ra thị trường Việt Nam thì việc đầu tiên DN phải đi xin phép Bộ Y tế. Chúng tôi nộp hồ sơ xin phép xét cấp số lưu hành TTBYT từ tháng 8/2022 nhưng đến giờ vẫn chưa đến lượt xem xét hồ sơ để phê duyệt, như thế là rất chậm trễ.

Từ giờ đến cuối năm 2023, chúng tôi cũng chưa biết lúc nào hồ sơ được đọc và phê duyệt. Nếu theo trình tự bình thường, chúng tôi chỉ mất 2 đến 4 tháng chờ đợi là hồ sơ được Bộ Y tế duyệt nhưng giờ đây, chỉ riêng khâu xét duyệt hồ sơ đã phải chờ cả năm trời. Cuối cùng sản phẩm có nhưng DN chưa thể nhập về bán trên thị trường chỉ vì cơ quan cấp phép làm chậm. Không thể triển khai được sản phẩm mới, Philips gặp rất nhiều khó khăn, bí bách.

Toàn bộ DN không nhập khẩu được thiết bị mới và bán hàng thì cả khách hàng, các bệnh viện cũng không được tiếp cận nâng cấp sản phẩm TTBYT mới, công nghệ mới để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho dân. Như thế chính ngành Y tế cũng chịu thiệt thòi”, ông Nhất nói.

Ngoài phàn nàn về việc bị chậm cấp số lưu hành TTBYT, đại diện Philips Việt Nam còn than rằng, họ còn gặp khó khăn lớn trong việc đưa các thiết bị y tế đã được cấp số lưu hành trên thị trường vào các bệnh viện khi thiết bị này được cập nhật, nâng cấp một số tính năng mới không làm thay đổi nhiều tính năng của thiết bị. Cụ thể, với những TTBYT đang lưu hành trên thị trường mà cập nhật tính năng mới thì DN cũng phải nộp hồ sơ xin cấp số lưu hành lại từ đầu. Nghĩa là nếu nộp vào cuối tháng 8/2023, thì hồ sơ đó sẽ phải xếp sau 7.000 hồ sơ đang phải “xếp hàng” ở Bộ Y tế. Nếu cứ duy trì quy trình, sự chậm trễ này thì TTBYT mới hoặc được cập nhật tính năng mới có được cấp phép thì cũng trở thành TTBYT cũ, lạc hậu...

Một DN kinh doanh TTBYT khác cho rằng, họ không những mất chi phí cơ hội kinh doanh do phải chờ đợi, khó khăn nhập thiết bị, mà còn mất khoản đầu tư rất lớn. Cụ thể là khi triển khai một số TTBYT mới đến các bệnh viện, DN phải chi tiền tuyển thêm nhân sự, kỹ sư hiểu biết về thiết bị y tế mới để đào tạo, cập nhật kiến thức về TTBYT. Thế nhưng DN tuyển dụng, đào tạo xong, chờ đợi mãi mà TBYT không được cấp phép lưu hành, DN đành phải sa thải nhân công chất lượng cao, vì không có tiền để chi lương cho họ để chờ đợi cấp phép cả năm trời chưa xong.

“Chúng tôi chỉ mong cơ quan chức năng, Bộ Y tế cải tiến ngay quy trình, phân cấp phân quyền; cử nhân sự đọc và trả lời hồ sơ sớm nhất có thể, nếu không thực hiện thế thì nhiều DN, cơ sở y tế không có sức, nguồn lực chịu đựng lâu hơn được nữa...”, đại diện DN này nói và thông tin thêm rằng, nhiều DN đã được gặp lãnh đạo cấp cục của Bộ Y tế, đã được nghe phương án xử lý vấn đề nhưng không chắc chắn là khi nào mới có thể gỡ vướng được khâu chậm trễ cấp số lưu hành TTBYT này!

Hơn một năm qua, DN gặp khó khăn trong cấp số lưu hành TTBYT đề nghị nhưng vẫn chậm được giải quyết, một số hiệp hội, tổ chức đã gửi thư, đề nghị giải quyết gấp vấn đề này đến lãnh đạo Bộ Y tế. Trong công thư số 1007, ngày 10/7/2023 gửi lãnh đạo Bộ Y tế, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đánh giá cao sự nỗ lực tích cực của Bộ Y tế trong việc củng cố, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý TTBYT.

Tuy nhiên, EuroCham đề nghị bộ này: Điều chỉnh thời gian áp dụng hồ sơ kỹ thuật chung về TTBYT theo quy định của ASEAN đến ngày 1/1/2025; Có cơ chế ưu tiên để đánh giá và cấp số đăng ký lưu hành mới đối với TTBYT đã được cấp phép nhập khẩu, số đăng ký lưu hành còn hiệu lực nhưng có thay đổi các thông tin trên giấy phép. Kiến nghị này mục đích là để đẩy nhanh tiến độ cấp phép số lưu hành với TTBYT đang rất chậm trễ, “nguy cơ làm gián đoạn việc cung cấp TTBYT cho các cơ sở khám chữa bệnh”. (Tienphong.vn 05/9, Xuân Khánh - Quyền Thành) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Lần đầu tiên Đảng quy định về xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan

Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 117 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Đây là quy định đầu tiên của Bộ Chính trị về xin lỗi đảng viên bị kỷ luật oan sai được đặt ra một cách cụ thể, kể cả việc xem xét trách nhiệm với người gây ra kỷ luật oan. Ngay sau khi ban hành, Quy định này nhanh chóng được hầu hết cán bộ, đảng viên quan tâm và cho rằng đây là việc làm cần thiết.

Đây là quy định đầu tiên bằng văn bản của Đảng về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Quy định gồm 4 chương, 15 điều, đề cập cụ thể từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc, căn cứ, trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi… cũng như những trường hợp bị oan thật nhưng không được xin lỗi, phục hồi quyền lợi.

Theo đó, căn cứ để xác định một đảng viên hoặc tổ chức đảng bị oan gồm: Kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Kết luận, quyết định, bản án của cơ quan pháp luật xác định đảng viên bị điều tra, truy tố, xét xử oan dẫn đến tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan.

Về nguyên tắc, việc xin lỗi, phục hồi quyền lợi cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải thực hiện kịp thời, công khai, khách quan và do chính tổ chức đảng đã ra quyết định gây oan chịu trách nhiệm thực hiện. Cùng với đó là bãi bỏ, thu hồi quyết định kỷ luật oan; xem xét trách nhiệm của tổ chức, đảng viên tham mưu, quyết định kỷ luật oan. Giải quyết oan phải triệt để. Kể cả khi người bị oan đã qua đời thì vẫn phải tổ chức xin lỗi với thân nhân đảng viên.

Trong cuộc trao đổi với PV VOV, PGS.TS Lê Văn Cường - Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, trong thực tế cuộc sống chắc chắn không thể nào tránh khỏi được sai sót.

“Trong quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng nói chung, trong công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật đảng nói riêng chắc chắn cũng có những trường hợp xảy ra oan sai, cho nên phải làm sao để khắc phục được các kết luận oan sai, đấy mới là cái cốt của vấn đề”, TS Cường khẳng định. Ông cũng cho rằng, qua những vấp váp, những khuyết điểm đó phải rút ra được bài học kinh nghiệm, biết thừa nhận khuyết điểm để đề ra các biện pháp khắc phục, có như vậy mới làm cho Đảng ngày càng mạnh lên.

Nhìn lại lịch sử, ông Cường lấy ví dụ về những sai lầm trong câu chuyện cải cách ruộng đất. Khi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nhận khuyết điểm, chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân và tiến hành sửa sai. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy khăn lau nước mắt thực sự rất đáng nhớ, đáng quý, và vô cùng xúc động. Đó là lời xin lỗi chân thành, được thốt lên từ trái tim của một người suốt cả cuộc đời chỉ biết hy sinh, một lòng vì nước, vì dân.

Sau này trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" bác đã chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. “Xin lỗi” tức nhận thấy cái sai của mình”.

Bởi vậy theo TS Cường, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định 117 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan là vô cùng cần thiết, thể hiện rõ nét đẹp nhân văn của Đảng. Việc nhận ra sai sót và chân thành xin lỗi sẽ làm cho dân chủ trong Đảng thực chất hơn, minh bạch, công khai hơn thể hiện chia sẻ nỗi oan của tổ chức đảng và đảng viên.

“Xin lỗi sẽ giúp cho những người không may bị rơi vào tình trạng oan sai cảm thấy nhẹ lòng và nhân dân nhìn vào cũng thấy được sự thành tâm, thành ý của tổ chức đảng, nên đây là một quy định mà tôi cho là rất phù hợp”- TS Cường khẳng định.

Tuy nhiên, trên thực tế, PGS.TS Lê Văn Cường cho rằng, có những thứ xin lỗi được, phục hồi được, nhưng có những cái không thể xin lỗi, không thể phục hồi được. Bởi khi nhân cách, sự nghiệp chính trị của mỗi con người đã chà đạp sẽ không gì có thể cữu vãn nổi. Thậm chí nhiều người đã mất trước khi nhận được lời xin lỗi.

Chính vì thế, theo TS Cường, việc xin lỗi là cần thiết nhưng một điều quan trọng nữa là phải gắn trách nhiệm, thậm chí là xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định và cá nhân tham mưu kỷ luật.

“Điều này cũng sẽ giúp tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật phải thận trọng, cân nhắc để không xảy ra oan sai”, ông Cường phân tích.

Trong Quy định 117 lần này, đối tượng áp dụng khá rộng, không chỉ với tổ chức đảng, đảng viên đang làm việc, mà cả những tổ chức đảng đã giải tán, đảng viên đã qua đời…Ông Cường cho rằng, đây là một bước tiến khá lớn, có tính pháp lý cao.

Để Quy định 117 đi vào cuộc sống, theo TS Lê Văn Cường, trước hết cần phải tạo sự thông suốt trong nhận thức. Đồng thời, quá trình tổ chức thực hiện cần phải có sự kiểm tra, giám sát để nơi nào làm tốt thì nhân rộng nơi nào làm chưa tốt kịp thời nhắc nhở, thậm chí kể cả đến mức phải xử lý kỷ luật. TS Cường cũng nhấn mạnh, quá trình tổ chức xin lỗi cần tỏ rõ thái độ cầu thị, cách hành xử văn hoá trong lãnh đạo, quản lý. Làm được như vậy chính là góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. (VOV.vn 05/9, Thanh Hương)Về đầu trang

TPHCM: Kiến nghị xử lý gần 700 cán bộ né tránh, thiếu trách nhiệm

UBND TPHCM vừa có báo cáo gửi Thanh tra Chính phủ về kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ.

Báo cáo nêu rõ, từ năm 2021 đến tháng 6/2023, TPHCM đã thực hiện 462 cuộc thanh tra, 823 cuộc kiểm tra, 2.437 cuộc giám sát hoạt động công vụ và ban hành kết luận 762 cuộc. Các cuộc còn lại không ban hành kết luận mà chỉ ban hành báo cáo kết quả kiểm tra, văn bản chỉ đạo, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót được phát hiện qua hoạt động kiểm tra, giám sát.

Những vi phạm chủ yếu được phát hiện là thời gian tham mưu xử lý hồ sơ chưa đảm bảo theo quy định; chưa làm tốt công tác tham mưu, đề xuất trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng.

Đồng thời, có những hạn chế, thiếu sót trong quản lý đất đai, trật tự xây dựng, đô thị, vệ sinh môi trường, quản lý thu, chi tài chính, ngân sách, cải cách hành chính và một số cá nhân chưa chấp hành nghiêm túc nội quy, quy chế làm việc của cơ quan đơn vị.

Qua thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ, TPHCM đã phát hiện vi phạm về kinh tế số tiền gần 98 tỷ đồng và 1.598,9 m2 đất; kiến nghị thu hồi gần 61 tỷ đồng và 1.598,9 m2 đất; kiến nghị xử lý khác về kinh tế hơn 37 tỷ đồng.

UBND TPHCM cũng kiến nghị xử lý hành chính đối với 152 tổ chức và 899 cá nhân, trong đó có 688 cá nhân né tránh, thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, đồng thời kiến nghị chuyển cơ quan điều tra 6 vụ. Từ việc xử lý trách nhiệm nêu trên, thành phố đã thu hồi nộp ngân sách nhà nước hơn 55 tỷ đồng, xử lý hành chính 104 tổ chức, 875 cá nhân và khởi tố 2 vụ.

Cũng theo nội dung báo cáo gửi Thanh tra Chính phủ, UBND TPHCM nhìn nhận thời gian qua đã quyết liệt chấn chỉnh tình trạng né tránh, đùn đẩy, không thực hiện đúng, đủ chức trách trong thực thi công vụ; bên cạnh đó khuyến khích, phát huy những cá nhân dám nghĩ, dám làm vì công việc chung.

Địa phương cũng đã kịp thời quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ đối với các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn. Nhờ đó, tính tự giác và trách nhiệm thực hiện công vụ đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Cũng theo UBND TPHCM, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực thi công vụ trên địa bàn thành phố còn một số vi phạm, hạn chế về tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai, trật tự xây dựng, đô thị, môi trường, thu, chi tài chính…

 

Theo UBND TPHCM, tồn tại hạn chế nêu trên là do thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị thiếu quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính đối với đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý. (Tienphong.vn 04/9, Ngô Tùng)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

Không để lãng phí công sản

Việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019-2021 giúp giảm đáng kể đơn vị hành chính, tinh giản cán bộ. Song quá trình này cũng có một số vấn đề đặt ra cần sớm giải quyết, điển hình là việc dôi dư trụ sở sau sắp xếp.

Riêng tại Thanh Hóa có gần 800 công trình dư thừa đang bỏ không. Đến nay, địa phương này vẫn đang loay hoay giải quyết.

Hay như ở Thừa Thiên - Huế, đường Lê Lợi, vốn là con đường đẹp nhất ven bờ nam sông Hương, trước đây là nơi làm việc của nhiều đơn vị sở, ngành. Sau khi chuyển đến nơi làm việc mới, những trụ sở cũ đều cửa đóng then cài, ngổn ngang rác thải. Không được trông coi, cơ sở vật chất xuống cấp trầm trọng, hoang phế, mất mỹ quan.

Còn nhiều, rất nhiều nơi khác cũng diễn ra tình trạng tương tự, khiến tài nguyên đất, tiền ngân sách bị lãng phí.

Được biết, khó khăn lớn nhất là xử lý tài sản đất đai. Trong đó, phương án bán đấu giá mất nhiều thời gian vì phải theo quy trình, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Việc sắp xếp, xử lý tài sản sau sáp nhập đã được Chính phủ giao UBND cấp tỉnh hướng dẫn thực hiện, nên các địa phương có thể chủ động thực hiện theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng việc triển khai trên thực tế không đơn giản. Chẳng hạn như việc xử lý tài sản công là nhà đất dôi dư. Do các tài sản này không xử lý được theo hình thức chia lô, bán nền riêng lẻ mà phải đấu giá cả mặt bằng, nên tài sản trên đất cơ bản sẽ phải phá bỏ sau khi nhà đầu tư trúng đấu giá. Như vậy, nhà đầu tư vẫn phải trả chi phí cho phần giá trị tài sản công trúng đấu giá mà không sử dụng được.

Một số địa phương còn ngần ngại trong việc thanh lý, bán đấu giá trụ sở vì chưa tính toán được nhu cầu sử dụng công sở trên địa bàn; lo ngại rằng nếu thanh lý rồi thì khi có yêu cầu mới về trụ sở lại không đủ khả năng, nguồn lực để mua lại hay bố trí được địa điểm mới có điều kiện tương đương.

Bên cạnh đó, việc xác định giá đất cụ thể trước khi xác định giá khởi điểm bán đấu giá cũng khá khó khăn, phức tạp do công năng, giá trị sử dụng, vị trí của các trụ sở, tài sản bán đấu giá không phù hợp với mục đích kinh doanh, thương mại, dịch vụ, làm nhà ở của các đối tượng có nhu cầu.

Câu chuyện dư thừa và lãng phí trụ sở, tài sản công sau sáp nhập cần sớm được giải quyết, bởi đây là sự lãng phí đầu tư công lớn.

Việc cần làm là phải tận dụng tối đa những trụ sở dôi dư. Nếu có thể làm trường học, nhà văn hóa… thì cần phải được tận dụng, tránh bỏ hoang như hiện nay. Với những trường hợp có thể đấu giá hay cho thuê cũng cần thực hiện ngay. Bởi các công trình nếu không được sử dụng thì rất nhanh xuống cấp.

Bên cạnh đó, muốn chuyển đổi công năng hay đấu giá bán tài sản, việc đầu tiên là phải tham khảo ý kiến người dân về mục đích chuyển đổi. Nếu khảo sát thực tế kỹ lưỡng và có cách thức tiến hành bài bản, công khai, minh bạch, đúng pháp luật, không để thất thoát, chắc chắn sẽ không vấn đề gì.

Điều quan trọng nhất ở đây là quyết tâm và tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu các địa phương. Dù khó khăn, vướng mắc nhưng không việc gì là không thể giải quyết.

Bởi tất cả các văn bản, quy định pháp luật đều là do chúng ta đặt ra. Địa phương gặp khó, hay những việc vượt thẩm quyền có thể báo cáo, chắc chắn không gặp trở ngại gì. Còn nếu cứ lo ngại việc này hay việc khác, câu chuyện sẽ không thể sớm giải quyết, sự lãng phí vẫn kéo dài. (Baogiaothong.vn 05/9, ĐBQH Phạm Văn Hòa) Về đầu trang

Ý thức, trách nhiệm trong kỷ luật phát ngôn

Hiện nay, bên cạnh phần lớn người dân luôn ý thức gương mẫu, trách nhiệm khi phát ngôn thì đang xuất hiện tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Ðảng, Nhà nước, đòi hỏi trách nhiệm cao hơn từ các cơ quan chức năng cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội để ngăn chặn hiệu quả.

Cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan của Ðảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, và thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức giao. Hoạt động của cán bộ, công chức gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trao cho. Bởi vậy những phát ngôn của họ thường tác động không nhỏ tới đời sống xã hội, tới việc thực thi các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước trong thực tiễn.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc: "Cán bộ là những người đem chính sách của Ðảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Ðồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Ðảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".

Người đặt ra yêu cầu người cán bộ phải là người có tư cách đạo đức trong sáng, gương mẫu, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Qua những lời nói của những cán bộ có trách nhiệm, nhân dân cũng noi gương theo Ðảng, tin tưởng và làm theo.Lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được mọi người dân, cán bộ, công chức thấm nhuần và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn người dân, cán bộ, công chức gương mẫu, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn lắng nghe dân, hết lòng phụng sự nhân dân thì vẫn còn tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện, thiếu chuẩn mực.

Ðôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, phát ngôn của họ đã gây ra những dư luận xấu, để lại những hậu quả lâu dài, có thể trở thành "tử huyệt" để các phần tử xấu lợi dụng.

Cùng với đó đang tồn tại tình trạng một số cán bộ, công chức có biểu hiện "hai mặt": Khi ở cơ quan, đơn vị thì phát ngôn và làm theo đúng quan điểm, đường lối của Ðảng, nhưng khi bước ra khỏi cơ quan, đơn vị thì lại có phát ngôn bừa bãi, lệch lạc, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tổ chức nơi đang công tác.

Thậm chí có cá nhân có biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ, phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng hoặc sử dụng những thông tin không chính thống, sai sự thật để quy kết, luận bàn thiếu trách nhiệm, thiếu tính xây dựng các vấn đề của đất nước, gây bức xúc dư luận.

Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, giai đoạn 2016-2020, gần 8.300 đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị đã bị xử lý kỷ luật. Trong đó, có 477 đảng viên nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về hưu...

Ðặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ hiện nay, những phát ngôn thiếu chuẩn mực của những cá nhân nêu trên rất dễ có nguy cơ bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc, khoét sâu vào một số bất cập, hạn chế, bé xé thành to để tấn công Ðảng, Nhà nước và chế độ, gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Ðảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ.

Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận công dân trong xã hội bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân ích kỷ phát triển lấn lướt, nhận thức, giác ngộ về tư tưởng, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn yếu kém.

Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ, công chức, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Ðảng, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ.

Về phía tổ chức đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số nơi chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Ðảng có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng, tính thiết thực tới cán bộ, công chức.

Thẳng thắn nhìn vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, với quan điểm "xây" và "chống", thời gian qua, Ðảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, quy định về kỷ luật phát ngôn, nhất là đối với cán bộ, công chức. Ðảng nhận định thực trạng nêu trên là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cùng với đó là nguy cơ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước rất ngắn, khiến những đối tượng nêu trên có thể sa vào vũng lầy của người chống Ðảng. Thậm chí có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.

Chính vì vậy, sau Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Quyết định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIII đã ban hành Quyết định số 69-QÐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Trong đó, Ðiều 28 "Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn", chỉ rõ các hành vi: Viết bài, duyệt đăng bài, sao chép, tán phát bài viết, thông tin không chính xác; lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước,...

Việc bổ sung những quy định này giúp nhận diện rõ các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong tuyên truyền, phát ngôn, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Từ đó cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, giữ vững kỷ luật kỷ cương, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Thời gian tới, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn, Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng… (Nhandan.vn 05/9, Trường Hùng)Về đầu trang./.

Các tin khác

07